Cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng

Quân Hai Bà đánh đến đâu thắng đến đó. Các dân tộc Man, Lý ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng theo. Lấy lại được 65 thành ở đất Lĩnh Nam, Bà xưng vương, đóng đô ở Mê Linh.

Lấy lý do bà Trưng tự xưng làm vua, đem quân đánh các thành ấp làm cho các vùng biên giới bị khổ sở, nhà Hán bắt dân chúng ở Trường Sa, Hợp Phố và Giao Chỉ sắm sửa xe, thuyền, sửa sang cầu đường, khai thông các khe suối, chứa sẵn lương thực và phong Mã Viện làm Phục Ba tướng quân, Lưu Long làm phó tướng, đốc xuất bọn Đoàn Chí sang đánh quân Trưng vương vào mùa đông năm Nhâm Dần.

Quân Mã Viện kéo đến Lãng Bạc, đánh nhau với quân hai bà Trưng. Trưng vương lui binh về giữ đất Cấm Khê.

(Lãng Bạc còn có tên là Dâm Đàm, ở phía Tây thành Đại La. Vào đời Lê, đổi tên là Tây Hồ tức là Hồ Tây tỉnh Hà Nội ngày nay. Theo sách Việt chí, Cấm Khê là Kim Khê, ở phía Tây Nam huyện Mê Linh).

Hai Bà Trưng

Hai Bà Trưng

Mùa xuân năm Quý Mão. Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị trực chiến với quân Hán. Vì quân ít thế cô nên hai bà thua trận và nhảy xuống giòng sông Hát tuẫn tiết.

Mã Viện đuổi đánh cánh quân còn lại của hai Bà đến huyện Cư Phong thì quân Lĩnh Nam tan rã. Mã Viện sai lập cột đồng để ghi địa giới tận cùng của nhà Hán. Khi Mã Viện rút về, người trong nước thương nhớ Trưng vương nên lập đền thờ bà.

Cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng

Sách Thủy Kinh chú của Lịch Đạo Nguyên chép rằng, Mã Văn Uyên (Mã Viện, tên tự là Văn Uyên) dựng cột mốc bằng đồng để làm giới hạn cuối cùng của đất phía nam Trung Hoa.

Sách Nhất Thống Chí của nhà Thanh chép: Tương truyền cột đồng nằm về động Cổ Sâm châu Khâm. Mã Viện có thề rằng “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”, nghĩa là “cột đồng ấy gẫõy thì Giao Chỉ bị diệt”, nên người Việt đi qua dưới chân cột đồng ấy cứ lấy đá bồi đắp lên mãi thành gò đống cao. Đó là vì sợ cột đồng ấy bị đổ gẫy.Sách Thủy Kinh chú có nói: núi sông biến đổi, cột đồng bị lở xuống biển. Người dân lập đền thờ Hai Bà Trưng ở xã Hát Môn thuộc huyện Phúc Thọ ngày nay để nhắc nhớ công trạng hiển hách của Hai Bà và thế hệ Lĩnh Nam.

 

Trong phần tiểu sử và công đức, còn nhắc đến những hành động bạo ngược tàn ác của giặc phương Bắc đối với con dân nước Việt như sau:

Từ năm 34 Tô Định được nhà Hán cử sang làm Thái thú. Với bản tánh ngang ngược bạo tàn, Tô Định đã bắt giết nhiều Lạc hầu, Lạc tướng. Y hành hạ người dân Việt bằng cách đày lên rừng tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai, vơ vét của cải khiến dân chúng lầm than. Vì thế ông Đặng Thi Sách gửi thư yêu cầu Tô Định phải chấm dứt sự lộng hành. Chẳng những Tô Định không nghe mà còn bắt giết ông và gia tăng sự tàn bạo.

Hai Bà Trưng

Hai Bà Trưng

Cái chết của ông Thi Sách đã châm ngòi cho cuộc tổng khởi nghĩa vốn âm ỉ từ lâu, bắt đầu từ bà Trắc là vợ của ông và là cháu ngoại của vua Hùng. Bà cùng em sinh đôi là bàNhị dựng cờ khởi nghĩa tại huyện Mê Linh.

Với quyết tâm dựng lại nền độc lập và tự chủ của nước Văn Lang, Hai Bà đã chiêu mộ quân binh khởi nghĩa. Những tiếng trống từ rừng Mê Linh sau đó đã vang rền, đánh thức tinh thần dân tộc, làm dấy lên ý chí quyết chiến cho tổ quốc. Những nỗi đau riêng đã chuyển thành chung, tình nhà nợ nước, các nỗi uất hận đã chuyển thành sức mạnh ví như thủy triều dâng.

Cả dân tộc Việt đã đồng loạt đứng lên đánh đuổi giặc ngoại xâm, khởi đi từ tiếng trống trận Mê Linh, tiếng trống đã làm khiếp vía tên thái thú Tô Định và đoàn quân xâm lược của phương Bắc.

Cuộc tiến binh vượt ra khỏi lãnh thổ Văn Lang lên đến phía nam Động Đình Hồ và đoàn quân ngày càng đông đảo hơn khi tiến đến vùng Lưỡng Việt (Quảng Đông và Quảng Tây). Đại quân có những mãnh tướng như Doãn Công, Ông Hựu, Ông Đông (thầy võ của hai Bà), Đào Kỳ, Phương Dung, Bạch Nương, Hồng Nương, Tía Nương, Lê Chân, Bát Nàn, Bảo Châu, Nguyệt Thai, Nguyệt Độ… Riêng Bà Nhị được phong là Bình Khôi công chúa.

Chia quân làm hai đạo, mỗi Bà cầm một đạo quân tiến như chẻ tre làm cho bọn giặc xâm lược không kịp trở tay, dắt nhau trốn chạy. Tại Liên Lâu, tập trung các đoàn quân nhỏ cùng với hai đạo quân lớn, nhất là hai đoàn quân do hai nữ tướng tài ba chỉ huy là Ả Tắc và Ả Di, đã bao vây tấn công khiến Liên Lâu thất thủ, Tô Định dẫn quân chạy về Hoa Đông thì bị phục binh, đại bại.

Chưa đầy một tuần trăng kể từ ngày xuất quân, Hai Bà Trưng đã thu giang sơn về một mối, gồm Long Biên và 64 thành trì khác. Hai Bà cùng thế hệ Lĩnh Nam đã viết lên một trang sử oai hùng cho dân tộc.

Đại cuộc bất thành, hận thiên thu

Cuộc khởi nghĩa đã làm rúng động cả triều đình nhà Hán. Hai năm sau, với tham vọng tái chiếm Giao Chỉ, nhà Hán đã đưa hai vạn quân, do Mã Viện làm soái tướng, từ Hồ Nam mở đường xẻ núi tiến đánh nước Nam.

Năm thứ 43 (Quý Mẹo), với bốn mặt trận đẫm máu, đạo binh của nữ tướng trẻ chưa đầy ba mươi tuổi đã chém được tướng giặc là Bình Hầu Hán Vũ tại hồ Lãng Bạc.

Tại mặt trận Mê Linh, các tướng sĩ của Hai Bà bị Mã Viện dùng thế gọng kềm vây hãm nên phải lui binh về Kim Khê. Khi Mê Linh thất thủ, một số nữ tướng đã nhảy xuống ngã ba sông Hồng và sông Hát tuẫn tiết.

Mã Viện tiếp tục truy đuổi, tập trung hết lực lượng vây đánh Kim Khê. Trong khi địch càng ngày càng gia tăng quân số, quân binh của Hai Bà đã “sức cùng lực kiệt” nên rút lui ra sông Hát. Gần đến sông Hát thì bị đạo quân tiên phuông của địch đuổi kịp. Biết thế cuộc đã thất bại, nhiều tướng sĩ như Cao Thị Liên, Nàng Quốc, Ngọc Kính, Phùng Tú, Phùng Huyền, Hoàng Cát… đều tự sát tại mặt trận hoặc gieo mình xuống sông tuẫn tiết.

Quân Mã Viện ồ ạt tiến về Sơn Nam, các tướng lãnh khác rút về Thần Phù. Nữ tướng Tía Nương, lúc ấy khoảng hai mươi tuổi, can trường ở lại ngăn chận mũi tiến công, chống trả với gần hai vạn tinh binh, cuối cùng không muốn bị lọt vào tay giặc đã nhảy xuống cửa biển Thần Phù tự ải.

Cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng đã làm chấn động cả triều đình Hán. Trong lịch sử Trung Hoa chưa hề có một phụ nữ nào dám đứng lên khởi nghĩa và xưng vua như Hai Bà. Chính vì thế đây mãi mãi là một trang sử vẻ vang của nòi giống Tiên Rồng, một chiến tích liệt oanh của những anh thư nước Việt.

Lịch sử đã ghi công Hai Bà cùng hàng trăm tướng lãnh và hàng ngàn binh sĩ đã hy sinh vì đại nghĩa. Cuộc khởi nghĩa mùa Xuân năm Canh Tý viết nên trang sử hào hùng có một không hai trong lịch sử Đông Phương nói riêng và cả thế giới nói chung. Đền thờ Hai Bà do dân chúng Lưỡng Việt nhớ ơn lập ra tại Xã Hát Môn, đến nay vẫn còn khói hương nghi ngút.

Con dân Việt không những có bổn phận làm lễ tưởng niệm Hai Bà và thế hệ Lĩnh Nam một cách trang trọng mà còn phải mãi mãi ghi nhớ khí phách dũng liệt của các bậc anh thư trong quyết tâm chiến đấu để tổ quốc được trường tồn.

Lời nguyền của Mã Viện đã không hề ứng nghiệm đối với dân tộc Việt. Cột đồng đã biến mất nhưng dân tộc Việt vẫn đứng vững, đã giành lại được nền tự chủ sau 1000 năm Bắc thuộc và đã liên tiếp mở ra những trang sử oai hùng khác với các chiến công “phá Tống, bình Chiêm, diệt Mông, đuổi Minh, thắng Thanh”.

Hai Bà Trưng

Hai Bà Trưng

Chính vì thế chúng ta có quyền tin rằng, dân tộc Việt một lần nữa sẽ đập tan được dã tâm bành trướng của bọn Hán tộc trong thế kỷ 21 này. Nhưng trước tiên là cần phải dẹp tan tập đoàn Cộng Sản Việt Nam đang cam tâm làm thái thú để mở đường cho bọn bá quyền phương Bắc xâm lược nước ta một lần nữa.

Ngày mà toàn dân tộc đồng loạt đứng lên đã không còn bao lâu nữa. Tiếng trống Mê Linh đang bắt đầu vang vọng trên khắp các nẻo đường đất nước, trên internet, trong các tờ truyền đơn từ Nam chí Bắc, các lời kêu gọi của nhiều tổ chức, nhiều đoàn thể, nhiều giới khác nhau trong mùa Xuân Tân Mão với khí thế sôi sục sau các cuộc cách mạng ở Bắc Phi và Trung Đông.

Người Việt chúng ta trong cũng như ngoài nước hãy noi gương Hai Bà Trưng, cùng vùng lên mở ra một trang sử mới thật hào hùng cho giòng giống Lạc Hồng!

Việt Thái

 

 

 

 

About hoiphunuauco

through many generations, Vietnamese women have strived continuously:l Within their families, Vietnamese women have always fulfilled their roles as mother, wife, and sister with patience, endurance, boundless love and self-sacrifice to build and maintain happiness which they understand is the basic foundation of life. In society, Vietnamese women usually lend their hands to assuage the suffering of unfortunate victims of poverty, inequality, natural calamities and wars. Abroad today, in responding to the concerns from the communist-refuged Vietnamese communities worldwide, How to preserve the thousand years of Vietnamese customs and culture so that the young Vietnamese do not forget their mother’s tongue and develop the spirit of union, the love of Vietnam and Vietnamese people? How to support and protect the Vietnamese women who are victims of human trafficking under the various forms such as labor exportation, sex slavery, and brides exportations? How to support the women and their family in Vietnam those who have encountered difficulties from government due to policies of arrest, incarceration, and torture in order to destroy their patriotism and fighting spirit to achieve freedom and democracy for Vietnam? Declaration: Considering the above concerns, we, the Vietnamese women from all over the world, solemnly declare to establish the Federation of Vietnamese Au-Co Women with the following objectives: To maintain and promote Vietnamese culture and language overseas, To contribute to the support and protection to Vietnamese women who are the victims of human trafficking under various forms such as labor exportation, sex slavery and brides exportation. To support women and their families who have encountered difficulties from government due to policies of arrest, incarceration and torture in order to destroy their patriotism and fighting spirit to achieve freedom and democracy for Vietnam To join forces with womenfolk and menfolk inside and outside of Vietnam in the struggle to bring about prosperity and democracy to Vietnam. Appeal: The Federation earnestly appeals to: All Vietnamese inside and outside of Vietnam to actively support the Federation in its struggle to maintain and promote Vietnamese cultures and language. The free world, especially the United Nations, Amnesty International, human rights and charitable organizations to support the Federation in its effort to protect and assist women who are victims of human trafficking and communist tyranny in Vietnam. All Vietnamese women to follow the examples of Trung & Trieu sisters as well as Le Thi Cong Nhan, Tran Khai Thanh Thuy, Pham Thanh Nghien, and courageously stand up to fight for women’s rights and the rights of all Vietnamese citizens. Declared in the USA on the third of September 2010 On Behalf of the Federation of Vietnamese Au Co Women President

Posted on November 4, 2014, in Anh Thư Nước Việt and tagged , . Bookmark the permalink. Leave a comment.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: