Category Archives: Tản Mạn:

Những Câu Chuyện Thiền Phật Giáo Dí Dõm – Dương Tiêu – Nguyên Tịnh – Alain Bảo – Diệu Hiền Diễn Đọc

LÝ TƯỞNG ? BY ALAIN BẢO – Bảo Phán

LÝ TƯỞNG ? BY ALAIN BẢO·

Anh họ tôi du học qua Tây Đức, theo diện quốc gia nghĩa tử vào những năm cuối cùng trước khi Miền Nam thất thủ, khi dượng tôi bị ám sát ngay trước vòng đai Bộ Tổng Tham Mưu.

Sau 75, Đại gia đình bên ngoại tôi phần lớn bị kẹt lại và sống một cuộc đời lê lết, ngục tù của những kẻ được mang danh là con cháu Mỹ ngụy bơ thừa sữa cặn.

Ngày anh họ tôi về thăm đại gia đình từ Tây Đức vào những năm rất sớm sau “giải phóng”, anh có một dáng vẻ thật khoa học, thật thà, với nước da trắng hồng và cặp mắt thật sáng của một người sống lâu năm tại xứ lạnh, khác hẳn với tôi, một thằng nhóc con đen đũi ốm nhom lòi xương, được hân hạnh sống dưới thiên đường xã hội chủ nghĩa và học tập dưới đỉnh cao trí tuệ trong thời gian tiểu học.

Có lẽ vì ra nước ngoài du học quá lâu hay là vì quá yêu khoa học mà anh họ tôi thường rất ít biết về 2 từ “Cộng Sản”, một chủ nghĩa được sáng tạo ngay trên trên đất nước Đức, nơi đã đào tạo anh thành một tiến sỹ khoa học gia.

Chỉ vài năm sau, vì quá kinh hoàng trước cách đối xử và sinh sống của chế độ ưu việt xã hội chủ nghĩa, cả đại gia đình từng người một may mắn vượt biên, vượt biển và nhờ trời phật phù hộ, tất cả đều đến định cư rãi rác các xứ sở tự do từ Châu Âu, Châu Úc, Mỹ và Canada.

Cuôc đời lắm chuyện tréo cẳng ngổng, khó ai mà lường được, vào những năm cuối thập niên 90, anh họ tôi lại quyết định về giảng dạy tại trường Đại Học Bách Khoa Sài Gòn, theo lời mời của nhà cầm quyền Hà Nội.

Ngày đó cũng là ngày dì tôi khóc sướt mướt, và quyết định sẽ không liên lạc với “thằng con trời đánh” nhưng lại là người con hiếu thảo đã tảo tần gửi viện trợ về giúp đỏ gia đình dì tôi vào những năm còn sống tại Việt Nam, đã đi ngược lại ý muốn của dì.

…Rồi thời gian cũng qua đi, vì bận lo mưu sinh, kiếm cơm manh áo tại xứ người, đại gia đình tôi dần dần quen lãng có một người anh em bạn dì hiện là giáo sư từ Tây Đức về giảng dạy tại Việt Nam.

Những năm Las Vegas có Conference về computer và khoa học kỷ thuật, tôi lại gặp được anh họ tôi ngay tại thành phố nóng cháy và không bao giờ ngủ.

Vì học chung nghành nên thường tôi có dịp được anh họ giảng dạy và trao đổi những dự án và phát minh về tin học cũng như toán học, mà anh đại diện cho Việt Nam trình bày tại những Conference này.

Anh họ tôi thuê 1 căn nhà nhỏ tại Sài Gòn, và hàng ngày cắm cuối lái xe đạp lên trường giảng dạy, chiều tối về lại cơm rau cháo muối đạm bạc một mình đơn côi, như một người xa lạ sống ngay trên quê hương.

Có lần trong dịp qua trường đại học ASU (Arizona State University) giảng dạy theo lời mời của Hoa Kỳ, tôi có vài lời khuyên anh hãy cẫn thận với thức ăn bên Việt Nam, vì dạo này tụi Tàu hay làm đồ giả, thức ăn độc hại pha chế và nhập cảng vào Việt Nam.

Anh họ tôi cho biết, nhu cầu ăn uống của anh rất đơn giản, ngoài ra anh có đóng bảo hiểm sức khoẻ cho Trường Đại Học Bách Khoa – nếu có bệnh tình hay chuyện gì xảy ra thì cũng đỡ lo, vì anh hiện sống ở Việt Nam dù là công dân Đức.

Cuối năm 2013-đầu năm 2014, được tin anh bị đau gan nặng, và tất cả tiền bảo hiểm sức khoẻ của anh đóng tại trường Đại Học Bách Khoa đều bị ban giám hiệu của trường này giựt và đem ăn xài nhậu nhẹt.

Vì không về Đức thường xuyên để làm việc, cộng với số tiền khiêm nhường ít ỏi của nhà nước Cộng Sản, và anh đã trút hết tin tường vào số tiền bảo hiểm sức khoẻ khá lớn, mà anh họ tôi đã đóng cho trường và bị mái trường xã hội chủ nghĩa cướp một cách trắng trợn. Anh họ tôi hoàn toàn không có khả năng chi phí những khoãn tiền khổng lồ 1200 dollars, cho mỗi lần chữa trị bằng phóng xạ. Gia đình dì tôi bên Mỹ phải gom góp và gửi về tất cả chi phí cho bệnh viện.

Nhưng rồi cái gì đến cũng phải đến, vào cuối tháng 6 năm 2014, anh họ tôi trút hơi thở cuối cùng tại Việt Nam, không một người thân, không một họ hàng.

Bệnh Viện đã quăng xác anh họ tôi vào nhà xác chờ gia đình dì tôi từ Mỹ về nhận, trường Bách Khoa Cộng Sản (trên khu trường đua Phú Thọ cũ) thì im hơi dấu tiếng về hàng chục ngàn dollars giựt chia chác từ tiền bảo hiểm sức khoẻ do anh tôi đóng hơn mười mấy năm.

Mãi tới ngày mai 30 tháng 6 chủ nhật thì anh họ tôi mới được người thân cấp tốc bay về từ Mỹ nhận xác, xác anh họ tôi nằm trong bệnh viện cộng sản từ 21 tháng 6 đến chủ nhật 30 tháng 6, liệu có còn nguyên vẹn như lời hứa ướp xác của bệnh viện hay không ?

Tôi viết bài này trong 1 trạng thái hỗn độn, vừa buồn, vừa giận, vừa trầm tư về cái chết quá trẻ của người anh họ khoa học gia hiền lành, thông minh đã đem tài năng giảng dạy cho sinh viên trường Bách Khoa, một ngôi trường đã nhẫn tâm ăn cướp tất cả tiền bảo hiểm sức khoẻ, và sau khi vắt chanh bỏ võ một tài năng lỗi lạc.

Không biết rằng anh họ tôi bên kia thế giới có biết chăng, anh chính là người tha hương ngay trên một xứ sở tham nhũng, hối lộ, văn hoá thối nát dưới sự thống trị của một chế độ ươn hèn ngu dốt, tay sai cho ngoại bang ? hay anh chỉ là một nhà khoa học thuần túy, suốt đời chỉ biết đến những con số, dữ liệu máy tính, thuyết trình ?

Ngay khi bài này viết xong, thì anh họ tôi chỉ mới được nhận xác từ bệnh viện sau 9 ngày vất vưởng trong bệnh viện không người thân, không họ hàng.

Dù sao đi nữa, xin cầu chúc linh hồn anh được an lạc nơi cõi bên kia  !

Kính tưởng niệm hương hồn người anh họ anh em bạn dì Lê Ngọc Minh – Giáo Sư Tiến Sỹ Khoa Học Gia trường Đại Học Stuttgart West Germany – Trường Đại Học Bách Khoa Sài Gòn !

Nam Mô Bồn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật !

Alain Bảo

29/06/2014

Las Vegas, USA

 

Câu chuyện có thật ở quán mì Bắc Hải Đình Nhật Bản – Diệu Nghiêm Diễn Đọc

Quán Niệm Sự Chết – Tác Giả Như Quang – Dịch Giả Dương Tiêu (Alain Bảo)

Tết ! Truyện rất ngắn Alain Bảo – Bảo Phán

Tết !

Tối giao thừa Las Vegas thật là lạnh, ngoài khung cửa sổ gió thổi phần phật như muốn đập vỡ những mãnh kính mỏng manh. Nhà vắng vẻ đìu hiu như mọi năm, 23 năm tha phương trên đất khách chưa từng về quê hương, về thăm miền cát trắng Nha Trang, nơi tuổi thơ ấu của tôi hồn nhiên đùa nghịch với những ngọn sóng biển, chân tay đầy cát vì tinh nghịch với những chú còng, chú ốc.

Tiếng em trai tôi ho trên lầu, tự dưng mấy bữa rầy nó bị cảm liên tục…trên bàn ăn là 2 đĩa gà chiên mà mẹ tôi làm sẵn trước khi xuống Cali đón Tết và xem diễn hành, sẵn dịp coi văn nghệ tại chùa Điều Ngự.

Bàn thờ Phật chưng hai bó hoa thật lớn và thật tươi, lung linh dưới ngọn đèn nhỏ…Căn nhà nhỏ chợt cảm thấy thênh thang thừa thải, không một tiếng nói, hoặc một tiếng động. Tôi thì đang ở dưới lầu đọc sách, thỉnh thoãng lại nghe tiếng ho khe khẻ của thằng em trai chen lẫn với tiếng trở mình khó ngủ của nó.

(I Need A Beer)

Trời càng khuya càng lạnh, chợt cơn đói tự nhiên chợt đến…nhìn đồng hồ đẫ gần 11 giờ đêm, tôi khoác vội chiếc áo choàng Hootie, vội ra garage lái vội xe đến tiệm bán bánh mì Lee’ Sandwich….

Ngoài đường xe cộ vẫn đông vẫn vội vả dưới ánh đèn màu muôn vẻ chói lọi của Las Vegas. Đến tiệm bánh mua vội 2 ổ bánh mì đặc biệt và vội quay ra cửa.

Las Vegas quả là một thành phố có một không hai trên thế giới, bạn có thể hầu như mua và ăn bất cứ thứ gì dầu là nữa đêm hay tờ mờ sáng.

Vừa định mở cửa xe thì nghe tiếng rên rĩ của một cụ già người Mỹ Homeless, ngồi cuộn tròn gần một chiếc shopping cart, với hàng đống chai lọ lĩnh kĩnh, cùng nhiều loại mền vá chấp đủ loại quân ngang người.

Ông ta thều thào nhìn về phía tôi và đưa tấm bảng hiệu viết bằng tiếng Mỹ: “Homeless, need a beer.”

Tôi nhướng mày đăm chiêu: “Trời lạnh như thế mà ông lão ngồi chơ vơ như linh hồn tượng đá, không ngõ một lời than van hay xin xỏ gì, mà chỉ đưa bảng hiệu “Homeless, Need a beer.”

Cạnh đó một nhóm thanh niên trẻ cười nói ồn ào có lẽ từ Cali đến, ôm nào là bánh mì, cafe, chè, và chạy vội ra chiếc Van đậu phia bên kia ông lão, có lẽ mang về Hotel để chuẩn bị đón Giao thừa.

Tôi chăm chú nhìn ông lão, rôi buột nói:

“I don’t have a beer” và trao vội ông lão 2 ổ bánh mì nóng:

“Here you go, Happy New Year.”

Không đợi ông lão trả lời, tôi bước vội lên xe và lái thẳng về nhà…Gió thổi từng cơn của sa mạc vỗ vào kính xe, trời hình như bắt đầu u ám và có gió mạnh.

Về nhà, tôi quăng vội chùm chìa khoá lên bàn làm việc, thằng em trai tôi giờ này đã ngủ, tôi xuống sofa đắp mền, và bật máy sưởi tay.

Tôi thầm nghĩ: ” Có lẽ mình cần 1 chai beer “….Gió đêm giao thừa 2013 ở sa mạc càng ngày càng mạnh, ngày mai là mùng 1 năm Quý Tỵ .

Lại một năm phiêu lạc xa xứ.

ALAIN BẢO

02/09/2013

 

CÒN MỘT NỤ CƯỜI BUỒN – BẢO PHÁN – (ALAIN BẢO)

Chương I – Ngày Thứ Sáu

Máy bay hạ cánh vào khoảng 5 giờ sáng Houston, hắn bước ra vội vã cùng với hàng loạt hành khách vẫn còn đang ngái ngủ, có người ngáy khò khò, tỉnh bơ như người Hà Nôi, cho đến khi cô tiếp viên đến đánh thức dậy.

Ngoài trời đang hừng sáng, cái nóng ẩm ướt, khó chịu của Texas đã choàng lấy thành phố Houston vội vàng trong bình minh hé mở.

Việt, với chiếc quần short và áo sơ mi, dáng vẻ nhanh nhẹn xông xáo, có lẽ vội vã thay, để kịp ra phi trường đón hắn. Anh mở cửa xe để hắn ném cái túi sách ra băng sau, và nhảy vô ngồi ở ghế trước, rồi Việt lái thật nhanh về nhà.

Đường xá Houston nhìn có vẻ rất ư là thiếu thước tấc, có lẽ do bị ngăn đôi bởi một đường giữa khá rộng, và cũng bởi có quá nhiều khúc cua dùng để quẹo trái hay rẽ phải dọc hai bên đường.

Về đến nhà Việt, anh dắt hắn vào phòng đã chuẩn bị sẵn, và nói ngắn gọn:

“Đây là phòng anh, hôm nay thì không có ai – anh cứ ở tạm phòng này.”

Sau đó anh vội vả bước ra, hình như để tiếp tục trở lại cơn ngủ vật vờ bị đánh thức bởi chuyến bay đêm của hắn.

Căn phòng thật đơn giản, nhìn ra mặt tiền của ngôi nhà, có một chiếc giường ngủ khá lớn cho hai người, và một loại giường nhỏ dành cho những người đi cắm trại. Hắn đoán, đây là gian phòng cho khách “thập phương” ngủ.

Vì đã ngủ khá nhiều trên máy bay và có thói quen thức sớm, hắn mở chiếc Laptop – vật bất ly thân của hắn, đặt trên chiếc bàn kính vừa làm việc, vừa nhìn khung cảnh lá rơi đơn độc phía dưới nhà.

Bên dưới sân, thỉnh thoảng có tiếng người lao xao, đi ra đi vô, sau này hắn mới biết đó là những người làm vườn, đến tỉa cây, dọn sân, hoặc sửa sang máy móc, bảo trì các thiết bị dùng trong nhà.

Hắn mãi mê làm việc, thỉnh thoảng lại vén cửa sổ nhìn xuống sân, như để giảm bớt sự im lặng tịch mịch, và thư giản hít thở không khí trong lành của buổi sáng thứ sáu.

Khoảng 12 giờ trưa thì hắn nghe tiếng gõ cửa.  Đó là chị Thùy – bà xã anh Việt – nhờ hắn chở đi công chuyện và mua thức ăn trưa.  Vì anh Việt mới bị đụng xe, may mắn chỉ có chiếc xe là tan nát đời hoa, còn anh chỉ bị xây sướt nhẹ, và nhức đầu nhẹ.  Ừ thì… của đi thay người mà! năm tuổi như vậy cũng là may mắn lắm.

Hắn chở chị Thùy đi mua phở, mua cơm đem về nhà và ghé thăm một vài nơi chị cần tới. Sau đó vợ chồng chị dùng phở, còn hắn thì ăn một dĩa cơm.

Buổi chiều, hắn và Anh lụi cụi thay hộp Cable mới, nghe đâu sẽ chạy nhanh gấp 10 lần cái cũ, loay hoay mãi hơn hai tiếng, thì cả hai mới biết đó là hộp TV connector của hãng Comcast dùng để dụ khị khách hàng chuyển qua công ty của họ. Chị Thùy ngồi lặng lẽ vô bao gối, sắp xếp bàn ghế cho khu vườn sau nhà chuẩn bị cho khách đến ở lại nhà. Hắn lặng lẽ giúp anh chị những việc thật bình thường và đơn giản nhất.  Không khí trong khuôn viên sau nhà thoáng mát, gió nhè nhẹ thổi, thỉnh thoảng làm những hạt bụi bay vào trong mắt hắn.

Sau vườn, có một ngôi nhà gỗ nhỏ, chung quanh có một chiếc cầu và hòn non bộ. Tiếng lá reo xào xạc, làm hắn chợt nhớ đến thuở thiếu thời… cách đây 30 năm,  mỗi lần trốn học, hắn cũng từng ngồi với bạn bè dọc sở thú , hay ra ngồi lề đường đầy lá me bay, hay đến bên cạnh bờ tường ngôi trường Trưng Vương đầy mộng mơ của tuổi học trò hồn nhiên .

Chiều tối, vợ chồng Việt và Hắn cùng nhau luân phiên hát Karaoke và chuyện trò  như ba người bạn thuở Ô Mai Học Trò. Việt có giọng hát khá mạnh, giống như tiếng nói sang sảng của anh. Việt là một người lịch thiệp, giỏi trong giao tế; hoàn toàn trái ngược với hắn, hắn là kẻ ít nói, ít tiếp xúc, đơn độc lặng lẽ, như con sói cô đơn đến từ thành phố tội lỗi Las Vegas.

Sau khi ca hát đã đời, vợ chồng Việt cùng hắn đến một quán ăn Mễ Tây Cơ dùng bữa tối. Thức ăn thật ngon, cách phục vụ cũng thật chu đáo, thỉnh thoảng lại nghe ban nhac sống phòng bên cạnh vang dội, cùng tiếng cười sảng khoái của mấy tay nhậu đêm cuối tuần.

Dù rằng không thích ăn đồ Mễ Tây Cơ tý nào, nhưng sau này nếu có ai hỏi đến loại thức ăn này ở nơi nào ngon,  thì chắc chắn Hắn sẽ “quảng cáo” cho quán này khi họ tới Houston. J

Trên đường về, trời đã bớt nóng đi nhiều, dọc đường lại phải chuẩn bị tiền lẻ để trả lộ phí Toll cho hệ thống đường xá tại đây. Nếu hắn không nhầm, thì mỗi bận đi qua lại thì tốn mất ba lần trả tiền toll way, đi ăn bữa tối đó, tổng cộng phải trả sáu lần. Hắn mỉm cười nói: “Nếu một công nhân có mức lương 10 dollars một giờ, thì lộ phí để đi trên đường Tollway này, đã mất hết hai tiếng làm việc của họ rồi.”

Về tới nhà, anh Việt giới thiệu với hắn cậu con trai út (có lẽ con cưng của anh), cậu bé đang là sinh viên năm cuối tại University of Texas at Austin. Khác hẳn với bố cao lớn, cậu bé khá nhỏ nhắn, giọng nói thật nhỏ nhẹ, rất ngoan – Hắn trò chuyện với cháu hồi lâu và chúc cháu may mắn thành công trên đường sự nghiệp.

Sau khi nói chuyện với hai bố con của Việt, hắn trở về phòng, tắm rửa thật kỹ để tẩy đi mùi mồ hôi ẩm ướt khó chịu của thời tiết “quái đản” đặc biệt Houston, rồi lại tiếp tục lặng lẽ làm việc. Dưới sân nhà, bóng đêm đã dày đặt, chung quanh không một tiếng động… sau tám năm trở lại Houston, hắn cảm thấy thành phố trở nên đông đúc, lộn xộn và đông người Việt hơn. Lang mang với bao suy nghĩ, hắn thiếp đi vào giấc ngủ mộng mị “nghê thường” lúc nào không hay. Đâu đó trong giấc ngủ chập chờn, Hắn mơ thấy một Nha Trang đầy nắng đầy gió, một Nha Trang với hàng thùy dương trải dài dọc theo bờ biển đầy cát trắng, từng đợt sóng êm đềm của một thời niên thiếu xa xưa.

Chương 2: Tô Phở   (mến tặng anh NKL)

Thứ Bảy… một ngày tạm gọi là nghỉ ngơi với mọi người sau tuần dài mệt mỏi vì công ăn việc làm, nhưng với hắn, ngày nào cũng là ngày của công việc. Thứ Bảy này lại càng bận rộn hơn với Hắn khi đến với Houston chuyến này. Người trước tiên Hắn cùng Việt chào đón trong ngày thứ Bảy là Anh ba Khía. Tên anh đẹp lắm, có ý nghĩa lắm chứ, nhưng Hắn thân thương gọi anh là anh ba Khía vì anh gầy gò, mộc mạc và hết lòng vì anh em. Anh đến cùng làm việc với Hắn và anh Việt. Anh đơn thân độc mã trên một khoảng đường dài về tới Houston, chở theo đồ nghề, nào xoong, nào nồi niêu, nào gia vị, để nấu phở đãi các anh chị em khắp nơi cùng về họp mặt vào dịp gây quỹ cuối tuần.

Hắn và Việt vội vàng xuống, phụ anh ba Khía chuyển đồ nghề nấu phở vào nhà bếp, nôn nao được thưởng thức tài nghệ nấu phở có một không hai của anh.

Buổi sáng sớm, sớm lắm, khi mọi người còn đang yên giấc, thì tiếng reng báo thức từ điện thoại của hắn làm hắn phải bật dậy, lúc đó mới 4:00 sáng. Vì đó là giờ hắn thường thức dậy mỗi ngày để làm việc. Đã là thói quen, hắn không thể ngủ trở lại. Hắn buớc xuống lầu, chậm rãi, đánh răng, rửa mặt, thì thấy anh ba Khía đang lục đục ở bếp. Khi hắn bước vào, anh nhìn hắn với nụ cười hiền hoà:

“Anh phải chuẩn bị đi chợ, mua thêm thịt và hâm nồi nước lèo anh đã làm tối qua.”

Hắn và anh ngồi uống cafe và đàm đạo chuyện đó đây, thế sự thăng trầm, thiên hạ Đông Tây. Nhưng lý thú nhất là khi lắng nghe anh ba Khía nói chuyện về nghệ thuật nấu phở, và cách điều hành phát triển tiệm phở. Anh nói say sưa và nhiều cảm hứng , đôi khi hắn cũng tự mỉm cười thầm nghĩ: “không biết anh ba Khía nhà ta có “yêu phở” nhiều hơn “yêu cơm” không ta!!!!”

Read the rest of this entry

Thức khuya và không thức.(Huỳnh Phi Tiễn )

Thức khuya nên muốn gởi đôi dòng cho những kẻ ngủ hoài không thức. Tên Fidel Castro vừa mới xuống địa ngục để đoàn tụ với Lenin và Hồ Chí Minh là chính quyền Việt Cộng bắt người dân Việt Nam phải để tang. Khi xưa lúc Lenin đi thăm ông bà ông vải của Cộng Sản, Tố Hữu đã khóc nức nở: “ Ông Stalin ơi, Ông Stalin ơi! Hỡi ơi, Ông mất! đất trời có không? Thương cha, thương mẹ, thương chồng Thương mình thương một, thương Ông thương mười … … Ngày xưa đói rách tơi bời Có người mới có được nồi cơm no ….“
Tôi nhớ cái câu lúc nhỏ thầy giáo buộc phải thuộc lòng: “Ông Lê Nin ở nước Nga mà sao tôi thấy rất là Việt Nam”.13934969_1449208471763343_3807943764363392689_n
Giờ thì trời đã gần sáng, sao bụng tôi đói meo, thèm tô bún mắm nước lèo có giá hẹ heo quay. Cái tô bún đó mà có thêm bánh giá giòn Miền Tây và có cá lòng tong thì ngon hết xẩy! Nhưng chợt nhớ, cái thằng ông nội Lenin và thằng Castro giết người hàng loạt này có ăn được con mắm nào không mà sao người Việt Nam thờ cúng ca tụng khóc lóc dữ tợn vậy?
Theo tin tức từ Việt Nam thì chính quyền Việt Cộng đã trao tặng 5.000 tấn gạo cho nhân dân Cuba. Thật là trái ngược với câu Tố Hữu đã nói: “Có người mới có được nồi cơm no”. Không biết ai có nồi cơm no đây, trong khi dân Việt Nam vừa bị thiên tai bão lụt đói rét và bị trận Formosa thì lại không nghe chính quyền bỏ ra chi phí lo cho dân như lo cho Cuba? Câu tuyên truyền của Việt Cộng là lo cho dân đúng là lường gạt người dân. Dân Việt Nam đói khổ thì lại đem gạo cho không biếu không nước Cuba.
Nghĩ cho cùng thì giấc ngủ mê của Đảng Cộng Sản Việt Nam hôm nay và hôm qua quả là một giấc ngủ tồi tàn của những kẻ không dám thức. Với những sự kiện quan trọng trong nước luôn diễn biến và xảy ra trên đầu người dân, nhưng Đảng Cộng Sản Việt Nam và đại đa số người dân vẫn thờ ơ. Họ chỉ lo cho cá nhân họ và có chăng là chỉ lo vinh thân phì gia. Có một số anh em bên kia luôn chửi tôi là một kẻ “liu vong” ăn nhờ ở đậu. Ấy thế, người dân Việt Nam đã ăn nhờ được bọn quân Trung Cộng cái gì mà bây giờ ở Lạng Sơn miền Bắc Việt Nam, bọn Việt Cộng bán nước đã thiết lập “nghĩa trang” để “ghi ơn” công trạng của quân Trung Cộng năm 1979. Phải chăng đây là tiền của dân chúng nơi đây hay của cả nước đã đóng góp qua thuế má mà chính quyền Việt Cộng không dùng để lo cho dân lại đi xây dựng mồ mả cho những kẻ ùa sang giết chết biết bao nhiêu đồng bào Việt Nam của 6 tỉnh miền Bắc này? Bao nhiêu bệnh viện, bao nhiêu trường học, cùng tất cả những cơ sở hậu cần của 6 tỉnh miền Bắc và bao nhiêu sinh mệnh người dân Việt Nam hiền hoà đã bị hủy diệt và thảm sát không thương tiếc. Trong khi đó những người dân hiền hoà đã phải trải qua bao đau thương và chết chóc mà xác chết của những người con họ trong quân đội cũng không được biết đang ở đâu trên các ngọn đồi kia, không được tưởng niệm, không được truy điệu…hàng ngàn, chục ngàn người và bao gia đình đã bị thảm sát, những người được sống sót hãy còn đó, họ vẫn ghi nhớ sự đau thương ấy… Những người này sẽ nghĩ gì về tinh thần dân tộc hay quốc gia Việt Nam bây giờ khi nhìn thấy những mộ bia tri ân quân thù đồ sộ này?
Nếu nói tôi là một kẻ thờ ngoại bang vì cha tôi là lính của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và chúng tôi tôn thờ Mỹ “ngụy”, vậy thì các bạn có thấy đền thờ hay nghĩa trang nào của Mỹ tại nước Việt Nam không? Còn nếu nói bọn Cộng Sản cảm ơn quân đội Trung Cộng đã giúp cho cuộc chiến tranh Việt Nam chia rẽ Nam Bắc năm 54 và cuộc xâm chiếm miền Nam Việt Nam thì cái tư cách ngụy quyền lừa bịp mị dân của bọn Cộng Sản Bắc Việt thật là trắng trợn, vì bấy lâu nay lũ cháu ngoan “Bác Hù” đâu có ngờ rằng Bác Hù kính yêu là thiếu tá Hồ Quang, tên gián điệp Trung Cộng. Ôi, lũ u mê tôn thờ quân cướp nước này đến bao giờ mới tỉnh dậy, nghĩ mà đau cho một đất nước điêu linh triền miên tăm tối. Đêm đã khuya…
Huỳnh Phi Tiễn tạm ngưng.

SẼ CÒN MÃI NHỮNG ÁNH MẮT, NỤ CƯỜI – Nancy Nguyen

Chuyện xảy ra khi tôi mới chỉ học lớp hai, cái tuổi đi học còn mang dép trái, câu chuyện của một đứa trẻ nít sáng sáng đến trường còn khóc nhè đòi mẹ. Ai có thể tin rằng một sự việc chỉ thoáng qua trong vài giây ngắn ngủi lại có thể hằn sâu thành ký ức trong tâm hồn của đứa bé ở tuổi ăn còn phải dỗ, ngủ võng còn phải đưa như tôi thủa ấy. Chính tôi cũng không thể ngờ sự việc đó lại theo tôi, đeo bám tôi đến tận bây giờ, và khi nghĩ lại, tôi thầm cám ơn cuộc đời đã ưu ái tặng tôi một món quà lớn.

12107894_836050819842508_7532383472044135300_n

Năm đó tôi học lớp hai, cô giáo tôi là một cô giáo mới ra trường, còn rất trẻ, chắc là nhỏ tuổi hơn tôi bây giờ, và rất dễ thương. Cô hiền và hát rất hay. Chỗ tôi ngồi là dãy bàn đầu tiên gần bảng nhất, tấm bảng đen bạc thếch, vằn vện những vết mốc nắng mưa. Tôi ngồi sát bên góc trái, kế bên tôi là bức vách quét vôi vàng còn dơ dáy, bạc thếch và nhiều tuổi hơn cả tấm bảng đen. Vì ngồi ở góc xéo rất xa đó mà tôi luôn chỉ có thể nhìn thấy một nửa mặt cô trong khi những đứa khác có thể nhìn thẳng vào mắt cô đen láy, dạt dào nhiệt huyết của một cô giáo yêu nghề, yêu trẻ. Ông trời cho ta cái này sẽ lấy đi của ta cái khác, cũng vậy, ông trời lấy của ta cái nọ chắc chắn sẽ lại bù đắp cho ta cái kia. Cũng chính nhờ ngồi ở góc đó mà tôi có thể nhìn thấy mặt cô giáo tôi ngay cả khi cô quay lên bảng viết bài khi những đứa khác chỉ có thể nhìn thấy lưng cô. Cô tôi hiền, hiền lắm, cô giáo trẻ mới ra trường mà. Cũng tại cô hiền nên đám học trò đâm ra làm biếng. Làm biếng không học bài thì bị la là lẽ dĩ nhiên rồi, vậy mà tụi tôi đua nhau … khóc nhè. Mỗi lần như vậy, cô giáo lại ẵm tụi tôi lên dỗ dành, mái tóc dài nhưng có phần xơ xác của cô nhẹ phủ qua bờ vai gầy guộc, ôm lấy một dáng hình mỏng manh, yếu ớt đang ấp ủ một dáng hình khác -cũng mỏng manh, yếu ớt – vào lòng. Nhiều lúc tôi có cảm giác cô đang đối xử với chúng tôi như với những đứa nhỏ học lớp măng, lớp chồi, hay lớp lá ở mẫu giáo vậy! Chúng tôi đã bảy tuổi rồi, chúng tôi “lì” và “ma le” hơn tụi mẫu giáo nhiều chứ! Vậy nên thấy cô hiền thì tụi tôi làm tới. Tôi còn nhớ rõ Thắng, anh bạn tôi ngày ấy. Thắng có dáng người mảnh khảnh, mắt sáng, da ngăm sạm, đầu tóc và lông mày lúc nào cũng đen đúa màu bụi bặm, răng hắn kểnh một bên, má cũng lúm một bên đồng tiền. Thắng ngồi tuốt trong góc của bàn áp chót. Cái thân hình tự nhiên của một đứa trẻ sáu tuổi rưỡi, bảy tuổi ở một đất nước mà bơ hay sữa chỉ là thứ gì đó rất mơ hồ và xa xỉ, những bữa cơm có rau luộc với thịt kho là ngon lắm rồi làm cho dáng ngồi của hắn trong góc lớp đã gầy gò, dúm dó, lại càng gầy gò, dúm dó hơn. Và Thắng là đứa quậy nhất trong lớp tôi khi ấy. Thắng thường xuyên không học bài, trốn học đi chơi, học hành kém cỏi, biếng nhác. Cô giáo tôi buồn lắm, đã la Thắng nhiều mà Thắng vẫn chứng nào tật nấy, nhất nhất không có tiến bộ. Tôi còn nhớ như in buổi trưa hôm đó, một trưa thứ bảy có lẽ là của cuối tháng tư. Tôi đoán là cuối tháng tư phần vì thời gian đó chúng tôi sắp thi học kỳ hai, phần vì tôi nhớ cái nắng ấy, cái nắng gay gắt, hanh hao, khổ sở của trưa Sài Gòn độ cuối tháng tư không lẫn vào đâu được. Tôi biết là thứ bảy vì đó là tiết sinh hoạt lớp cuối tuần. Cả lớp đang ngồi im nghe cô giáo tôi tổng kết, mấy mươi đôi mắt ngây ngô đen sáng, tròn xoe dưới làn tóc mái lởm chởm, nhôm nhoam chăm chú nhìn cô. Cô tôi ôn tồn nói:
– Tuần này các con đều ngoan, có bạn Tiến, bạn Dũng với bạn Thắng hôm thứ ba nghỉ không có phép của phụ huynh, hôm thứ tư thì bạn Nga với bạn Thắng không thuộc bài “Tiếng Hát Sông Lô” còn hôm qua thì Thắng không nộp bài tập toán.
Cô quay sang Thắng: Thắng, con trả lời cô xem tại sao con không chịu học bài? Thắng đứng lên, dù là đứa lười và phá nhất trong lớp, bản năng của một đứa trẻ bảy tuổi sợ mắng cũng làm cho nó run. Thắng đứng im, không trả lời cũng không nhúc nhích, vẻ lì lợm thoáng hiện trên nét mặt tuy non nớt nhưng ngăm sạm màu nắng.
– Con làm cô buồn lắm, con biết không? – Thắng vẫn đứng yên, không cử động
– Con phải biết đọc, biết viết, biết làm toán thì mai mốt mới thành người tốt được chứ! – cô tôi tiếp, Thắng vẫn đứng im
– Con không sợ ba mẹ con buồn lòng sao? – Thắng vẫn đứng im, nét mặt không còn run và tái như lúc mới bị gọi lên nữa, trái lại, đôi mắt của đứa trẻ sáu tuổi rưỡi có vẻ già trước tuổi đi nhiều. Cái đứa tôi sáu tuổi rưỡi khi nhìn vào đôi mắt ấy thật chẳng hiểu gì, chỉ thấy căng thẳng và sợ hãi như đứa trẻ sợ ngáo ộp vậy thôi.
Cô tôi vẫn nghiêm nét mặt, nét mặt đến giờ tôi vẫn còn nhớ như in, khi ấy tôi còn quá nhỏ để nhận ra đó là nét mặt của một người mẹ, nghiêm nghị, buồn rầu và khổ đau. Cô tôi nói tiếp: “Chẳng lẽ ba mẹ con không bao giờ nhắc con học bài sao?”
– Dạ không! – Thắng đột ngột trả lời – Ba mẹ con đi lượm ve chai từ sáng đến tối mới về.
Cô giáo tôi lặng đi sững người, mắt mở to nhưng vô hồn. Bởi cái cô tôi thấy bây giờ không còn được nhìn bằng mắt nữa nên đôi mắt hoá dư thừa đâm ngây dại. Cô giáo tôi quay vội lên bảng cặm cụi hí hoáy viết lời của bài hát “Lớp Tôi” và nói vọng xuống lớp: “Bây giờ ta học hát.”
Từ góc xéo nhất nơi tôi ngồi, có lẽ chỉ một mình tôi là biết cô giáo tôi đang khóc.

Chỉ là phù du thôi

Chỉ là phù du thôi

Người ta nói: “con người sanh ra bình đẳng, chết đi bình đẳng” có thật như vậy không? Có kẻ làm vua từ trong bụng mẹ, sanh ra trong nhung lụa giàu sang, lại có kẻ chịu kiếp ăn mày từ trước khi cất tiếng khóc chào đời. Như vậy há chẳng phải con người ta từ trước khi sanh ra đã có sẵn một địa vị, một vị trí nào đó trong cái xã hội xô bồ này rồi sao? Cái địa vị đó có giữ được không và giữ được bao lâu lại là chuyện khác, nhưng câu nói “con người sanh ra bình đẳng” có thật là đúng không? Nghèo khổ là một cái tội! Nhưng thật tàn nhẫn khi bắt những đứa trẻ chưa bước nổi ra khỏi cổ tích phải gánh chịu nó, đó là sự thiếu thốn tình thương, thiếu thốn sự quan tâm của người làm cha, làm mẹ. Cuộc đời cướp đi của chúng và của anh bạn tôi, Thắng, cái hồn nhiên, ngây ngô trẻ con quý báu. Cuộc đời bắt những trái tim non nớt đó phải chà sát, phải chai sạn. Rồi lạnh lùng, cuộc đời lấy mất của chúng tuổi thơ, cái mà bất cứ đứa trẻ nào cũng cần và đáng được có, đáng được hưởng. Một mai khi chúng lớn lên, cái gì sẽ là kỷ niệm ấu thơ ngọt ngào, trong vắt, giòn dã tiếng cười làm hành trang cho chúng vào đời? Cái nhìn của những con người như thế về cuộc đời này, về kiếp người này rồi sẽ ra sao? Có ai đảm bảo rằng cái nhìn ấy chắc chắn sẽ vẫn vuông tròn, đầy đặn? Có ai đảm bảo rằng cái nhìn ấy sẽ chẳng méo mó, lệch lạc bởi những tì vết hằn sâu trong tiềm thức từ thủa còn bé thơ? Nước mắt của cô giáo tôi chắc không phải chỉ riêng cho mình Thắng. Tôi không gặp được cô nữa để hỏi cô đã khóc cho những ai, nhưng tôi tin rằng cô đã khóc cho tất cả những đứa trẻ bị cuộc đời đánh cắp mất tuổi thơ và sự chăm sóc.

Từ giây phút cũ kỹ ấy, hình ảnh cô giáo giáo tôi với đôi mắt đỏ cay nồng và những giọt nước mắt lấm lem bụi phấn đã đi vào tâm trí tôi, làm hành trang theo tôi vào đời: hành trang Niềm Tin, một niềm tin sắt son vào tình người. Khi bạn vấp ngã giữa dòng đời hãy tin rằng xung quanh bạn luôn có những cánh tay sẵn sàng giúp vực bạn đứng lên. Khi bạn cảm thấy cuộc sống quá đớn đau, hãy tin rằng quanh bạn vẫn luôn có những tấm lòng.

Đâu đó bên kia góc khuất của những dãy hành lang, những toà nhà là những tâm hồn rất “Người” đang toả sáng. Và cô giáo lớp hai của tôi, với khuôn mặt trắng loang loáng màu nước mắt và bụi phấn, là hình ảnh đẹp nhất mà đời tôi từng có được, nó nuôi dưỡng trong tôi một niềm tin sắt son vào cuộc sống và tình người.


Nancy Nguyen

Thiếu Vải – (Alain Bảo)

Thiếu Vải

Chiều thứ sáu, đang thả hồn lim dim theo giọng hát sang trọng, kiêu sa của Lệ Thu, Houston như chìm vào một dĩ vãng của một Sàigòn nóng nực, chợt nắng chợt mưa.

Chợt nghe tiếng điện thoại reng, tôi quờ quạng loay hoay tìm cái Iphone, rớt tận đáy kẹt của chiếc Sofa.

14333687_1370431959635429_1394225638273170167_n

“Hello ? ai vậy” tôi hỏi:

Bên kia là giọng của Âu Cơ Hương Huyền :” Anh Bảo, đến giờ đi coi chợ đêm Rock and Vote của bác sĩ Chu Văn Cương rồi ?” 0p

Giựt mình vội gọi coi đồng hồ thấy gần 5 giờ chiều:

“Anh lái xe ra liền.”

Bên kia còn nghe giọng nói với theo của Âu Cơ Hương Thùy, cùng ông xã là Quốc, nói với trong điện thoại:

“lẹ lên nghe anh.”

Vội tắt nhạc thật nhanh, rửa mặt và chạy ào ra garage, tôi lái vội đến khu chợ Hồng Kông 4, nơi tổ chức chợ đêm và buổi văn nghệ bỏ túi Rock and Vote cho bác sĩ Cương, nhân dịp ông ra ứng cử dân biểu tiểu bang Texas, địa hạt 149.

Đến nơi thấy các Âu Cơ đã có mặt đầy đủ, nghe nói bữa nay có nhiều màn muá của Hội Phụ Nữ Âu Cơ, vốn là một trong tiết mục ưa thích của tôi.

Hôm nay các Âu Cơ mặc áo thiệt sexy, Âu cơ Vân Anh mặc chiếc áo thun hở vai, và chiếc quần jean bạc màu , làm tôi không nhận ra, Cặp chị em sinh đôi Hương Thùy và Hương Huyền cũng mặc 1 kiểu đồng phục không kém phần hippi như Vân Anh, chỉ khác là những chiếc aó thun với dòng chữ “Vote for Dr Bryan Chu”, thì được khéo léo cắt dọc xẽ ngang, nửa kín nửa hở, trông thật lạ với hình ảnh quen thuộc, áo dài dịu dàng mà tôi thường thấy. Nhìn sang qua các Âu cơ Thu Huyền, Thùy Linh, Bạch Tuyết, Mai Hoa và các cô khác, thì tất cả cũng có cùng 1 đồng phục áo tả tơi với chiếc quần jean bụi đời.0k

Vốn tính ít nói và cũng không muốn tìm hiểu, tôi chỉ đến chào hỏi các cô Âu Cơ và vội tìm một chổ ngồi để thưởng thức các màn ca vũ của các Âu Cơ.

Vừa ngồi thưởng thức văn nghệ, vừa nhâm nhi món chè của Âu cơ Bạch Tuyết , mà tôi mua từ gian hàng Âu Cơ, thật sự còn gì sướng hơn nữa.

Đang mãi mê với chương trình văn nghệ, qua lời giới thiệu duyên dáng của Âu Cơ Mai Hoa, tôi bổng nghe tiếng nhạc quen thuộc xập xình, đầy vẻ man dại, Samba, của vùng Nam Mỹ. Đoàn vũ Âu Cơ với từng bước nhảy nhịp nhàng theo bài Macarena, trông thật dễ thương và lạ mắt. Chân tôi cũng nhịp nhịp, và gần như muốn đứng lên nhún nhảy theo điệu nhạc Macarena vốn thịnh hành vào cuối thập niên 90.08

Khi Âu Cơ Hương Thùy đến lượt, bước ra nhảy solo điệu Macarena, thì bên dưới sân khấu, nghe tiếng 1 bác trai tuy lớn tuổi, nhưng giọng nói rất trẻ trung:

“Hôm nay, chắc các Âu Cơ thiếu vải , nhưng nhờ vậy mà y phục rất hợp với điệu nhảy.”

Sau đó Bác đó vổ tay thật lớn, kéo theo hàng loạt tiếng vổ tay của khán giả bên dưới, cùng lượt Âu Cơ MC Mai Hoa mời Bác Sĩ Chu Văn Cương, ứng cử viên dân biểu khu vực 149 lên sân khấu, để giới thiệu với khán giả.

Không khí bổng trở nên thân mật và ấm cúng đến lạ thường, tiếng vỗ tay kéo dài theo nhịp của điệu nhạc huyền bí Macarena, và tiếng ủng hộ của mọi người:

“Vote for Dr Chu Văn Cương, hoan hô Hội Phụ Nữ Âu Cơ.”

Chương trình văn nghệ kéo dài tận hơn nữa đêm, thật hay và thật sinh động, trên đường về nhà, tôi bổng mỉm cười và tay bổng nhịp nhịp theo điệu Macarena của các cô Âu Cơ….Con đường về nhà bổng trở nên ngắn lại, tôi thầm nhủ nhất định mình sẽ bầu cho Bác Sĩ Chu Văn Cương, một gương mặt hoạt bác, lanh lợi, có nhiều sáng kiến và đã và đang mang nhiều sức sống mới cho giới trẻ, và cộng dồng Houston cũng như vùng phụ cận.

HOUSTON

Friday, October 9th 2016

Alain Bảo

…..gió và mây……….Hoàng Mỹ Thể

…..gió và mây……….

1948161_550955738353463_542373594_n

Mây uốn mình xoay tròn theo chiều gió… gió nghịch ngợm thổi mây bay bay qua các đồi núi, con sông… mây tung mình hóa thành những cánh chim Thiên Nga trắng toát… gió thổi mây lơ lửng trên mặt hồ để mây hồn nhiên nhún nhảy xoải cánh vũ điệu chim Thiên Nga… gió ngẩn ngơ ngắm nhìn… rồi nhẹ nhàng… nhẹ nhàng gió đến bên mây, ôm mây vào lòng… hôn nhẹ lên bờ mi xanh ngát… mây e thẹn đôi má ửng hồng… gió khe khẽ vi vu thì thầm bên tai mây những lời tình êm dịu… mây tan ra… tan ra… theo hạnh phúc trong gió… gió đưa mây đi đó đây… hát êm êm ru mây ngủ vào những sáng mùa đông… cùng reo vui khi mùa hạ đến… đưa mây ngắm những nàng hoa khoe sắc vào mùa xuân… và thổi tung lá vàng mùa thu làm thảm dưới chân mây dịu ngọt…

 

Rồi một sáng xuân về… mây thức giấc… mây chờ gió gọi… chờ gió đưa mây dạo bước vườn xuân… mây dáo dác nhìn quanh… tìm quanh… mây khẽ khàng gọi… vẫn không thấy gió… gió ơi… gió ơi… gió ở phương nào… mây không bay tìm gió được… không có gió… mây chỉ biết cúi đầu lặng buồn một chỗ… chợt có tiếng gió văng vẳng bên dưới tầng không… mây định reo lên gọi gió… nhưng gió lại bay là đà thấp hơn… thấp hơn… gió mơn man các nàng cỏ xanh tươi mát… làm các nàng e thẹn nghiêng mình chạy trốn… gió ve vuốt các nàng hoa xuân sắc… các nàng hoa lả lơi theo gió… cười lẳng lơ bên gió… gió sà mình quấn quít bên hoa…

 

Mây lặng người… tím ngắt… tủi thân… cả bầu trời vương theo màu mây tím u sầu… toàn thân mây buốt lạnh… mây lặng lẽ khoác lên mình chiếc áo màu xám tro hờn dỗi… không gian âm thầm u tối… các nàng hoa chợt ngưng bặt tiếng cười… thôi đùa với gió… dáo dác nhìn quanh… rồi chợt rùng mình… chạy tìm chỗ trú mưa… gió ngơ ngác giật mình… gió nhìn lên… những giọt lệ của mây âm thầm nhỏ xuống… gió cuống quít bay lên, bay lên… mây giận hờn tránh gió… mây quay đi từ chối lời yêu thương, từ chối vòng tay ấm nồng của gió… mây để mặc gió réo rắt lời nỉ non… gió kéo mạnh mây vào lòng… hôn lên đôi mi tím những nụ hôn cháy bỏng… gió dịu dàng ôm xiết mây… ghé môi hôn tha thiết… thì thầm bên tai mây những lời tình ngọt lịm… để mây thôi nức nở… để mây thôi dỗi hờn… mây thương gió… nên ngưng rơi giọt buồn…

 

Gió làm ấm lại không gian, làm ấm lại lòng mây… bầu trời trong veo theo nỗi vui mây gió… gió thì thầm bên tai mây… gió chỉ muốn làm cho làn mi mây xanh biếc, làm đôi má mây ửng hồng…  nhưng rồi những sớm mai đây… mây ngơ ngẩn hỏi… gió có còn làm cho mây buồn không… có làm cho làn mi mây tím, có làm bầu trời xanh xám không… gió nhìn mây không nói, chỉ im lặng mỉm cười… rồi khe khẽ nắm tay mây bay nhè nhẹ…..

 

……có không anh… có còn làm cho em buồn không???……